TRUNG TÂM KIỂM DỊCH Y TẾ QUỐC TẾ TP. HCM

Khách nhập cảnh cần biết

MỘT SỐ KHUYẾN CÁO DÀNH CHO HÀNH KHÁCH ĐI DU LỊCH NƯỚC NGOÀI TRONG DỊP TẾT NGUYÊN ĐÁN NĂM 2020

17/01/2020

Tết nguyên đán là thời gian cho chúng ta quay quần bên gia đình, bạn bè, trao cho nhau những lời yêu thương, những lời chúc may mắn dành cho năm mới. Một số gia đình sẽ chọn đi tham quan du lịch trong dịp Tết đến để làm mới lại bản thân, để tận hưởng không khí đón năm mới ở những miền đất mới. Để chuẩn bị thật tốt cho chuyến đi của gia đình mình, chúng ta sẽ cùng nhau điểm lại một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở trên thế giới trong năm qua để có thể nắm bắt được quốc gia nào đang có bệnh dịch, hiểu được các triệu chứng của bệnh và cách phòng chống như thế nào nhé!

1/ Bệnh viêm phổi cấp do chủng coronavirus mới tại Trung Quốc

            Đây là bệnh đang rất nổi gần đây mà Cục Y tế dự phòng nước ta đã ra quyết định tăng cường giám sát chặt chẽ tại các cửa khẩu. Bệnh này được ghi nhận đầu tiên vào ngày 31/12/2019 tại Vũ Hán, Trung Quốc. Tính đến nay đã 41 ca bệnh xác định, trong đó 1 ca tử vong, 7 ca trong tình trạng nguy kịch. Thái Lan và Nhật Bản đã thông báo mỗi nước có 1 trường hợp xác định mắc bệnh viêm phổi cấp sau khi bệnh nhân trở về từ Vũ Hán, Trung Quốc.

            Các chuyên gia Trung Quốc đã xác định được vi rút gây là một chủng coronavirus mới. Cho đến nay đã có 6 chủng coronavirus ở người được biết đến, bốn trong số đó phổ biến trong cộng đồng và ít gây thành dịch, thường chỉ gây các triệu chứng hô hấp nhẹ tương tự như cảm lạnh thông thường, hai loại khác là SARS và MERS có thể gây ra các bệnh hô hấp nghiêm trọng. Theo Tổ chức y tế thế giới thì có những trường hợp hiện tại cho thấy có khả năng vi rút lây truyền từ người sang người. Tuy nhiên, vẫn chưa có bằng chứng rõ ràng cho việc này.

            Bệnh viêm phổi cấp do chủng coronavirus mới này cũng gây các triệu chứng hô hấp: sốt, ho, khó thở… Hiện vẫn chưa rõ đường lây bệnh, thời gian ủ bệnh, phương pháp chẩn đoán và điều trị của bệnh viêm phổi cấp này. Tổ chức Y tế thế giới đã đưa ra một số khuyến cáo dành cho du khách như sau:

  • Các du khách khi đến Vũ Hán cần:
  • Tránh tiếp xúc với động vật (sống hoặc chết), chợ động vật và các sản phẩm từ động vật (như thịt chưa được nấu chín).
  • Tránh tiếp xúc với người bệnh.
  • Rửa tay thường xuyên với nước và xà phòng.
  • Nếu bạn đã đến du lịch tại Vũ Hán và bị bệnh, bạn nên:
  • Ở nhà – ngoại trừ việc đi đến cơ sở khám chữa bệnh, tránh tiếp xúc với người khác.
  • Không đi du lịch khi bị bệnh.
  • Đến các cơ sở y tế ngay lập tức, trước khi đến nên gọi điện trước và nói cho bác sĩ về các chuyến đi gần đây và triệu chứng của bạn.
  • Che miệng và mũi bằng khăn giấy hoặc tay áo khi ho hoặc hắt hơi.

2/ Ebola - Cộng hòa dân chủ Congo

Cộng hòa dân chủ Congo đang vật lộn với trận dịch Ebola lớn thứ 2 được ghi nhận ở trên thế giới với hơn 2200 người thiệt mạng, hơn 3300 ca bệnh xác định. Trận dịch bùng phát vào ngày 1/8/2018 ở hai tỉnh bắc Kivu và Ituri. Các nước láng giềng đang thực hiện các bước để giảm thiểu rủi ro lây lan dịch bệnh. Tại Congo cũng đã có 2 đợt thử nghiệm vắc xin Ebola cho người dân nhờ đó mà số ca mắc bệnh đang giảm dần.

Thời gian ủ bệnh từ 2 đến 21 ngày. Các triệu chứng thường đột ngột bao gồm: sốt cấp tính, mệt mỏi, đau đầu, đau mỏi cơ, đau họng. Các triệu chứng kèm theo có thể là nôn, tiêu chảy, phát ban, suy chức năng gan - thận và các triệu chứng xuất huyết: đi ngoài phân đen, chảy máu nơi tiêm truyền, ho máu, chảy máu chân răng, tiểu máu, chảy máu âm đạo.

Để phòng tránh Ebola, Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế khuyến cáo như sau:

  • Biện pháp phòng bệnh hữu hiệu là thực hành vệ sinh cá nhân, rửa tay thường xuyên với xà phòng và dung dịch sát khuẩn;
  • Tránh tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch tiết, các vật dụng của người, động vật nhiễm bệnh hoặc các vật có thể đã tiếp xúc với máu, dịch tiết của người, động vật nhiễm bệnh;
  • Hạn chế đi lại các quốc gia đang có dịch Ebola khi không cần thiết;
  • Nếu phải đi, cần tìm hiểu thông tin dịch Ebola tại nơi đến để có các biện pháp phòng ngừa lây nhiễm cho bản thân;
  • Hạn chế tiếp xúc trực tiếp với người nhiễm Ebola; khi cần thiết phải tiếp xúc cần phải đeo khẩu trang y tế, mặc trang phục phòng hộ đúng cách và giữ khoảng cách khi tiếp xúc.
  • Những người trở về từ các quốc gia có dịch, trong vòng 21 ngày nếu có dấu hiệu sốt, mệt mỏi, đau cơ, đau đầu, đau họng, tiêu chảy, phát ban… cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn, kiểm tra, xét nghiệm.
  • Thường xuyên cập nhật thông tin và cách phòng chống dịch Ebola tại Trung tâm kiểm dịch y tế quốc tế Tp. HCM trên website: www.kdytqthcm.gov.vn và các thông tin chính thống khác.

3/ MERS-CoV – Trung Đông

Tính đến tháng 12/2019, Tổ chức Y tế thế giới đã ghi nhận 2468 ca bệnh xác định MERS-CoV, 851 ca tử vong. Các ca bệnh tập trung ở các nước khu vực Trung Đông như Ả Rập Saudi, Oman, Qatar và Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, nhiều nhất là ở Ả Rập Saudi. Mới đây ngày 2-3/1/2020, theo Bộ Y tế Ả Rập Saudi, nước này có thêm 2 ca bệnh xác định của MERS-CoV, trong đó 1 ca tử vong.

Thời gian ủ bệnh của MERS-CoV là từ 2-14 ngày. Phần lớn những người đã được xác định là nhiễm MERS – CoV có các triệu chứng sau: sốt, ho, khó thở. Một vài trường hợp khác có thể có tiêu chảy, buồn nôn, nôn. Các biến chứng nặng hơn có thể xảy ra sau đó như viêm phổi hoặc suy thận.

Để chủ động phòng chống dịch bệnh MERS – CoV, Bộ Y tế Việt Nam khuyến cáo người dân và cộng đồng thực hiện tốt các biện pháp sau:

  • Hạn chế đi tới các quốc gia đang có dịch bệnh tại khu vực Trung Đông nếu không cần thiết. Trước khi đi du lịch cần tìm hiểu thông tin tình hình dịch bệnh tại nơi đến để chủ động có các biện pháp phòng ngừa lây nhiễm cho bản thân.
  • Giữ vệ sinh cá nhân, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng, súc họng bằng nước sát khuẩn miệng.
  • Cần che miệng và mũi khi ho, hắt hơi, tốt nhất bằng khăn vải hoặc khăn tay để làm giảm phát tán các dịch tiết đường hô hấp.
  • Hạn chế tiếp xúc trực tiếp với người bị viêm đường hô hấp cấp tính; khi cần thiết tiếp xúc với người bệnh phải đeo khẩu trang y tế đúng cách và giữ khoảng cách khi tiếp xúc.
  • Tránh tiếp xúc với động vật, vật nuôi, nếu đã tiếp xúc phải rửa tay bằng xà phòng.
  • Những người trở về từ khu vực Trung Đông, trong vòng 14 ngày nếu có dấu hiệu của viêm đường hô hấp cấp tính như sốt trên 38°C, ho, khó thở hoặc có tiếp xúc gần với những người có dấu hiệu như trên, cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn, kiểm tra, xét nghiệm MERS – CoV.
  • Thường xuyên cập nhật thông tin về cách phòng chống dịch bệnh MERS – CoV của Bộ Y tế trên website http://vncdc.gov.vn ,các thông tin về kiểm dịch y tế của Trung tâm Kiểm dịch y tế quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh tại website: http://www.kdytqthcm.gov.vn/ và các trang thông tin chính thống khác.

4/ Sốt vàng - Nam Mỹ, châu Phi

Virus gây bệnh sốt vàng được tìm thấy ở các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới ở Châu Phi và Nam Mỹ. Virus này lây lan sang người do vết cắn của muỗi bị nhiễm bệnh. Trong năm qua trên thế giới có ghi nhận một số ca bệnh sốt vàng ở Nigeria, Brazil, Venezuela và Mali.

Thời gian ủ bệnh của bệnh sốt vàng là 3-6 ngày. Bệnh nhân sốt vàng có thể trở thành nguồn lây truyền bệnh từ trước khi sốt một vài ngày và sau khi hết sốt 3-7 ngày. Muỗi Aedes aegypti sau khi hút máu có nhiễm vi rút sốt vàng sẽ trở thành nguy hiểm trung bình sau 9-12 ngày, và từ đó nó có khả năng truyền bệnh suốt đời. 

Phần lớn, người nhiễm vi rút sốt vàng sẽ không có triệu chứng. Một số người sẽ diễn tiến thành bệnh sốt vàng với các triệu chứng ban đầu như sau: sốt cao đột ngột, ớn lạnh, đau đầu nặng, đau lưng, đau khắp cơ thể, nôn, buồn nôn, mệt mỏi, yếu mệt. Phần lớn, những triệu chứng ban đầu của bệnh sẽ được cải thiện trong vòng một tuần. Đối với những người đã hồi phục, triệu chứng mệt mỏi, yếu mệt có thể kéo dài tới vài tháng. Một số ít người có nguy cơ tiến triển sang thể nặng của bệnh. Những triệu chứng của thể nặng bao gồm: sốt cao, vàng da, xuất huyết, sốc, tổn thương đa cơ quan. Những trường hợp diễn tiến thành thể nặng của bệnh có thể dẫn tới tử vong, tỷ lệ tử vong khoảng 30 – 60%. Do đó, nếu phát hiện các triệu chứng trên, người dân nên đến cơ sở y tế gần nhất ngay lập tức.

Biện pháp dự phòng có hiệu quả nhất đối với bệnh sốt vàng là tiêm vắc xin phòng bệnh. Thường sử dụng vắc xin 17D sống, giảm độc lực, an toàn cao, chế tạo từ phôi gà. Vắc xin được tiêm dưới da cho người từ 9 tháng tuổi trở lên, dùng một liều duy nhất, hiệu lực đạt 90% và có thể duy trì kháng thể lâu dài, tuy nhiên nên có mũi tiêm nhắc lại sau mỗi 10 năm ở những người có nguy cơ cao trong vùng dịch lưu hành.

Vắc xin sốt vàng được tiêm bắt buộc cho người đi đến từ vùng có bệnh lưu hành và đi vào vùng có bệnh sốt vàng. Để biết thêm thông tin về chủng ngừa vắc xin trước chuyến đi đến vùng có nguy cơ truyền vi rút sốt vàng, hành khách khu vực Tp. Hồ Chí Minh có thể liên hệ đến:

TRUNG TÂM KIỂM DỊCH Y TẾ QUỐC TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH,
Địa chỉ: 40 Nguyễn Văn Trỗi, phường 15, quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh. Điện thoại: (084)28.3844.5306.

Những đối tượng KHÔNG được tiêm ngừa vắc xin sốt vàng:

  • Trẻ dưới 9 tháng tuổi.
  • Phụ nữ mang thai – ngoại trừ trường hợp có dịch sốt vàng bùng nổ có nguy cơ nhiễm bệnh cao.
  • Những người dị ứng với protein trứng gà.
  • Những người suy giảm miễn dịch, HIV/AIDS...

5/ Tả - Sudan

Ngày 8/9/2019 Bộ Y tế Sudan đã thông báo cho Tổ chức Y tế thế giới về sự bùng phát dịch tả tại nước này. Tính từ ngày bùng phát 28/8 đến 12/10, tổng cộng có 278 trường hợp nghi ngờ mắc bệnh tả, bao gồm 8 trường hợp tử vong.

Thời gian ủ bệnh từ vài giờ tới 5 ngày, thường từ 2 tới 3 ngày. Bệnh lây mạnh nhất ở thời kỳ toàn phát của bệnh. Thời gian thải phẩy khuẩn tả thường kéo dài khoảng 1 tuần sau khi hết tiêu chảy cấp. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, khoảng 75% người nhiễm khuẩn tả không có biểu hiện triệu chứng bệnh. Tuy nhiên, họ vẫn đào thải vi khuẩn ra môi trường trong vòng 7- 14 ngày. Khoảng một phần mười (10%) người nhiễm bệnh sẽ có những dấu hiệu bệnh nặng đặc trưng như tiêu chảy cấp, nôn mửa và chuột rút ở chân. Ở những người này, việc cơ thể mất nước nhanh chóng có thể dẫn đến sốc, nếu không điều trị có thể dẫn đến tử vong trong vòng vài giờ.

Cục Y tế dự phòng đã đưa ra các khuyến cáo để phòng ngừa bệnh tả tại Việt Nam như sau:

  • Thực hiện các biện pháp thực hành vệ sinh cá nhân (rửa tay thường xuyên bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh); vệ sinh môi trường (sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, không vứt rác xuống các ao, hồ gây ô nhiễm nguồn nước, diệt ruồi); đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm (ăn chín, uống chín); bảo vệ nguồn nước và dùng nước sạch; khi có người bị tiêu chảy cấp, nhanh chóng báo cho cơ sở y tế gần nhất để được hướng dẫn và điều trị kịp thời.
  • Thực hiện miễn dịch chủ động bằng vắc xin. Hiện nay, có loại vắc xin được chứng minh là an toàn, sinh miễn dịch và có hiệu quả:
  • Vắc xin tả chết toàn tế bào với tiểu đơn vị B tái tổ hợp tinh chế của độc tố tả, uống 2 liều, cách nhau 10 – 15 ngày, có tác dụng bảo vệ 85 – 90% trong 6 tháng.
  • Vắc xin tả chết toàn tế bào hiện đang được sử dụng tại Việt Nam (WC), uống 2 liều cách nhau 10 – 15 ngày, hiệu lực bảo vệ khoảng 66%.
  • Vắc xin tả đã làm yếu đi (CVD 103 Hg-R), uống 1 liều, bảo vệ cao 95%.
  • Khi có dịch, hạn chế hội họp, hạn chế tập trung ăn uống đông người như ma chay, cưới xin trong vùng xảy ra dịch.

6/ Bại liệt – Một số nước thuộc châu Phi, châu Á

Tính đến ngày 25/12/2019, theo Tổ chức Y tế thế giới có 137 ca bệnh bại liệt do vi rút dòng hoang dại và 247 ca bệnh bại liệt do vi rút có nguồn gốc từ vắc xin trong năm 2019, tập trung ở các nước như sau Afghanistan, Pakistan, Nigeria, Angola, Benin, Cộng hòa Trung Phi, Chad, Bờ Biển Ngà, Cộng hòa dân chủ Congo, Ethiopia, Ghana, Togo, Zambia, Niger, Somalia, Papua New Guinea, Iran, và gần đây đã có 1 vài ca được ghi nhận xuất hiện trở lại tại Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Myanmar.

Thời gian ủ bệnh của bệnh bại liệt là từ 7-14 ngày, đối với các trường hợp có dấu hiệu liệt thực thể. Tuy nhiên thời kỳ ủ bệnh có thể dao động từ 3-35 ngày.

Phần lớn những người nhiễm vi rút bại liệt (khoảng 72%) sẽ không có các triệu chứng rõ rệt. Khoảng ¼ người nhiễm vi rút bại liệt sẽ có những triệu chứng giống bệnh cúm bao gồm: đau họng, sốt, mệt mỏi, buồn nôn, đau đầu, đau bụng. Những triệu chứng này thường kéo dài 2 đến 5 ngày, sau đó tự khỏi. Một tỷ lệ nhỏ hơn những người nhiễm vi rút bại liệt sẽ có thể diễn tiến thành các triệu chứng nguy hiểm hơn, tác động đến não và tủy sống: dị cảm, viêm màng não, liệt hoặc yếu chi, cơ thể. Liệt là triệu chứng nguy hiểm nhất của bệnh vì nó gây ra tình trạng tàn tật vĩnh viễn và tử vong. Khoảng 2% – 10% những người liệt do nhiễm vi rút bại liệt bị tử vong do vi rút tác động đến cơ hô hấp của họ. Ngay cả những đứa trẻ đã hồi phục hoàn toàn sau khi bị bệnh cũng có thể bị đau cơ, yếu cơ hoặc liệt khi trưởng thành, khoảng 15 đến 40 năm sau. Đây gọi là Hội chứng sau bại liệt.

Để chủ động phòng chống bệnh bại liệt, Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế khuyến cáo người dân cần thực hiện tốt các biện pháp sau:

  • Phòng bệnh chủ động cho trẻ dưới 5 tuổi bằng uống vắc xin phòng bại liệt ít nhất 3 lần theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
  • Người chăm sóc trẻ cần thường xuyên rửa tay với xà phòng, đặc biệt là khi cho trẻ ăn, sau khi đi vệ sinh.
  • Thường xuyên lau sạch các bề mặt, vật dụng, đồ chơi, dụng cụ học tập, bàn ghế, sàn nhà bằng xà phòng hoặc các chất tẩy rửa.
  • Đảm bảo an toàn thực phẩm, sử dụng nguồn nước sạch, nhà tiêu hợp vệ sinh, không phóng uế ra môi trường. Phân của trẻ em phải được thu gom và đổ vào nhà tiêu hợp vệ sinh.
  • Khi trẻ có dấu hiệu sốt, buồn nôn, cứng gáy, đau chi và cơ bắp hoặc liệt mềm cấp, cần đưa trẻ đến ngay các cơ sở y tế gần nhất để được khám, tư vấn và điều trị kịp thời.

7/ Lassa – Nigeria

            Kể từ khi bùng phát dịch bệnh Lassa năm 2019, Nigeria đã ghi nhận 4897 trường hợp nghi ngờ, trong đó 810 ca bệnh xác định, tử vong 167 tập trung ở các bang như Edo, Ondo, Bauchi, Nasarawa, Ebonyi, Plateau, Taraba, Adamawa, Gombe, Kaduna, Kwara, Benue, Rivers, Kogi, Enugu, Imo, Delta, Oyo, Kebbi, Cross River, Zamfara, Lagos and Abia.

Thời kỳ ủ bệnh của sốt Lassa từ 6 – 21 ngày. Triệu chứng của bệnh thường diễn tiến dần dần, bắt đầu với sốt, tổng trạng yếu và khó chịu. Sau một vài ngày, các triệu chứng đau đầu, đau họng, đau cơ, đau ngực, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, ho có thể xuất hiện. Trong trường hợp nghiêm trọng, sưng mặt, tràn dịch màng phổi, xuất huyết ở miệng, mũi, âm đạo, dạ dày và hạ huyết áp có thể xảy ra. Có thể có protein trong nước tiểu. Sốc, co giật, run, mất phương hướng và hôn mê có thể xảy ra ở giai đoạn sau. Điếc xảy ra ở 25% người bệnh sống sót sau căn bệnh này. Trong một nửa số trường hợp điếc, thính giác sẽ trở lại một phần sau 1 – 3 tháng. Rụng tóc và rối loạn dáng đi có thể xảy ra trong quá trình hồi phục. Tử vong thường xảy ra vào ngày thứ 14 kể từ khi bắt đầu triệu chứng. Căn bệnh này đặc biệt nguy hiểm cho những phụ nữ mang thai giai đoạn cuối, tử vong mẹ và thai nhi xảy ra hơn 80% trường hợp trong tam cá nguyệt thứ 3.

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra các khuyến cáo trong việc ngăn ngừa bệnh sốt Lassa như sau:

  • Phòng chống bệnh sốt Lassa phụ thuộc vào việc đảm bảo vệ sinh môi trường để ngăn ngừa loài gặm nhấm vào nhà. Những biện pháp có hiệu quả bao gồm: lưu trữ ngũ cốc và những loại những thực phẩm khác trong thùng chứa chống các loài gặm nhấm, xử lý rác xa nhà, giữ vệ sinh nhà ở và nuôi mèo. Bởi vì loài Mastomys có rất nhiều ở khu vực chúng lưu hành, nên không thể loại bỏ chúng hoàn toàn khỏi môi trường. Những thành viên trong gia đình nên cẩn thận tránh tiếp xúc với máu và dịch cơ thể khi chăm sóc người bệnh.
  • Ở các cơ sở y tế, nhân viên y tế cần phải áp dụng các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn khi chăm sóc người bệnh, kể cả khi không có triệu chứng. Những biện pháp này bao gồm vệ sinh tay cơ bản, vệ sinh không khí, sử dụng đồ bảo hộ cá nhân, tiêm ngừa an toàn và mai táng an toàn.
  • Nhân viên y tế chăm sóc người nghi ngờ hoặc mắc bệnh sốt Lassa cần áp dụng các biện pháp phòng ngừa đặc hiệu để tránh tiếp xúc với máu, dịch cơ thể của người bệnh và bề mặt hoặc các vật dụng (giường chiếu, quần áo) bị nhiễm bẩn. Khi tiếp xúc gần (trong vòng 1 mét), nhân viên y tế nên sử dụng đồ bảo vệ mặt (khẩu trang, kính), áo dài tay không vô trùng và găng tay (cần vô trùng trong một số trường hợp).
  • Nhân viên y tế cũng có nguy cơ nhiễm bệnh. Những mẫu lấy từ người và động vật nhiễm vi rút Lassa cần phải được thực hiện bởi những nhân viên đã được đào tạo và tiến hành với những trang thiết bị thích hợp.
  • Trong một số ít trường hợp, du khách đi từ vùng có bệnh sốt Lassa sẽ làm nguy cơ lây truyền bệnh sang các khu vực khác. Mặc dù bệnh sốt rét, sốt thương hàn và những bệnh truyền nhiễm nhiệt đới khác phổ biến hơn, nhưng việc chẩn đoán sốt Lassa nên được xem xét ở những bệnh nhân sốt đến từ Tây Phi, đặc biệt nếu như họ bị phơi nhiễm ở những vùng nông thôn hoặc là những bệnh viện nơi đang có dịch bệnh sốt Lassa. Nhân viên y tế nếu phát hiện thấy có bệnh nhân nghi ngờ sốt Lassa cần báo ngay lập tức cho các chuyên gia trong và ngoài nước để được tư vấn, chẩn đoán và điều trị.

8/ Dịch hạch – Madagascar, Cộng hòa dân chủ Congo, Mông Cổ và Trung Quốc (Nội Mông)

Tính trong năm 2019, bệnh dịch hạch đã được ghi nhận ở các quốc gia như Madagascar, Cộng hòa Dân chủ Congo, Mông Cổ và Trung Quốc với tổng số ca mắc là 39 ca, tử vong 10 ca.

Thời gian ủ bệnh từ 1-7 ngày. Bệnh dịch hạch ở người thường gồm các thể bệnh: thể hạch, thể nhiễm khuẩn huyết, thể phổi và thể màng não. Thường gặp nhất là thể hạch (chiếm 90% các trường hợp mắc).

            Thể hạch biểu hiện bằng phát bệnh đột ngột với các triệu chứng sau: ớn lạnh, mệt mỏi, đau cơ, đau bụng, buồn nôn, đau đầu. Sau đó, bệnh chuyển sang giai đoạn toàn phát với các triệu chứng đặc trưng: nhiễm khuẩn, nhiễm độc, sưng hạch (Hạch có thể to bằng ngón tay cái hoặc quả trứng gà, lúc đầu đau và cứng chắc, sau đó hạch mềm hóa mủ). Thể hạch có thể tiến triển thành nhiễm khuẩn huyết, thể phổi hoặc viêm màng não thứ phát. Nếu không được điều trị kịp thời và thích hợp, thể hạch dễ tiến triển đột ngột thành nhiễm khuẩn tối cấp với các triệu chứng sau: sốt cao 40 - 41°C, tình trạng nhiễm khuẩn, nhiễm độc, huyết áp giảm, mạch nhanh, nhỏ, vật vã, rối loạn tinh thần, hôn mê. Thường bệnh nhân tử vong trong vòng 3 – 5 ngày.

Để phòng bệnh dịch hạch, Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế khuyến cáo cộng đồng:

  • Đảm bảo thực phẩm ăn, uống phải được che, đậy an toàn... tránh để chuột tiếp xúc.
  • Thường xuyên vệ sinh môi trường, bố trí và sắp xếp vị trí cũng như cấu trúc nhà ở và kho tàng hợp lý tránh chuột chui rúc và làm tổ.
  • Thực hiện các biện pháp diệt chuột, bọ chét, phá hủy nơi sinh sản của chuột.
  • Khi thấy nhiều chuột chết bất thường phải khai báo ngay cho cơ quan y tế nơi gần nhất, không diệt chuột và bọ chét khi đang xảy ra dịch ở chuột và người.
  • Khi có biểu hiện nghi dịch hạch (sốt, nổi hạch,...) phải đến cơ sở y tế khám và điều trị kịp thời.
  • Ở những địa phương có dịch hạch lưu hành và những vùng có nguy cơ phải thường xuyên theo dõi kết quả giám sát dịch tễ học dịch hạch để chủ động phòng chống bệnh dịch hạch.
  • Phối hợp với lực lượng chức năng tại khu vực cửa khẩu kiểm tra, giám sát chặt chẽ phương tiện vận tải, hàng hóa, động vật nhập khẩu vào nước ta.

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) không khuyến khích sử dụng vắc xin ngoại trừ những nhóm đối tượng nguy cơ cao (nhân viên phòng thí nghiệm, nhân viên y tế chăm sóc người bệnh). Bộ Y tế Việt Nam chỉ định tiêm vắc xin cho người đi vào vùng dịch lưu hành và cho nhân viên chăm sóc động vật:

  • Vắc xin bất hoạt bằng formalin: tiêm 2 lần, cách nhau 1 – 3 tháng. Nhắc lại sau mỗi 6 tháng.
  • Vắc xin sống giảm động lực: tiêm trong da 0.1 ml. Nhắc lại hàng năm.

9/ Sốt Tây sông Nile – Mỹ và châu Âu

            Tính trong năm 2019, châu Âu và các nước láng giềng đã có 463 ca mắc Sốt Tây sông Nile tập trung ở các nước Hy Lạp, Romania, Ý, Hungary, Đảo Síp, Bulgaria, Áo, Đức, Pháp, Slovakia, Serbia, Israel, Thổ Nhĩ Kỳ và Bắc Macedonia. Theo Trung tâm kiểm soát bệnh tật của Mỹ thì từ đầu năm 2019 tính đến 7/1/2020, nước Mỹ đã ghi nhận 917 ca mắc bệnh ở người.

Thời gian ủ bệnh là từ 3 đến 14 ngày. 80% trường hợp người nhiễm vi rút không có triệu chứng. Khoảng 20% người nhiễm vi rút sẽ tiến triển thành bệnh Sốt Tây sông Nile, triệu chứng của bệnh bao gồm: sốt, đau đầu, mệt mỏi, nhức mỏi cơ thể, buồn nôn, nôn, đôi khi có phát ban, sưng hạch bạch huyết. Các triệu chứng của bệnh nặng (như Viêm não Tây sông Nile, viêm màng não hoặc Bại liệt Tây sông Nile) bao gồm: đau đầu, sốt cao, cứng cổ, choáng váng, mất phương hướng, hôn mê, run, co giật, yếu cơ, liệt.

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra các khuyến cáo nhằm giảm nguy cơ lây truyền vi rút sang người như sau:

  • Giảm nguy cơ lây truyền từ muỗi: chống muỗi đốt thông qua việc sử dụng màn chống muỗi, thuốc diệt côn trùng, mặc quần áo sáng màu (áo sơ mi tay dài và quần dài), tránh các hoạt động ngoài trời vào thời gian cao điểm của muỗi hoạt động. Ngoài ra nên có các chương trình cộng đồng khuyến khích người dân phá hủy khu vực sinh sản của muỗi trong khu dân cư.
  • Giảm nguy cơ lây truyền từ động vật sang người: nên sử dụng găng tay và quần áo bảo hộ khác khi xử lý động vật mắc bệnh hoặc mô của chúng trong quá trình giết mổ, tiêu hủy động vật.
  • Giảm nguy cơ lây truyền qua truyền máu và cấy ghép mô: hạn chế hiến máu và nội tạng, thực hiện xét nghiệm tại phòng thí nghiệm nên được xem xét tại thời điểm dịch bùng phát tại các địa phương.

Hành khách khi đến Hoa Kỳ hoặc các nước đang lưu hành Vi rút Tây sông Nile có thể áp dụng một số biện pháp sau:

  • Sử dụng thuốc chống côn trùng: sử dụng thuốc chống côn trùng đã được đăng ký bởi Cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA). Thuốc đã được chứng minh là có hiệu quả và an toàn đối với cả phụ nữ mang thai và cho con bú. Thuốc có thể chứa một trong các hoạt chất sau: DEET, Picaridin, IR3535, Dầu bạch đàn chanh, Para-methan-diol. Khi sử dụng thuốc chống côn trùng cần lưu ý các vấn đề sau:
  • Luôn làm theo hướng dẫn khi sử dụng thuốc.
  • Không sử dụng thuốc chống côn trùng cho trẻ em dưới 2 tháng tuổi, thay vào đó hãy cho trẻ mặc quần áo dài tay, quần dài và sử dụng lưới chống muỗi cho xe đẩy của bé.
  • Không sử dụng các sản phẩm có chứa dầu bạch đàn chanh hoặc para-methal-diol cho trẻ em dưới 3 tuổi.
  • Không bôi thuốc chống côn trùng lên tay trẻ em, mắt, miệng, vết cắt hoặc vùng da bị kích thích.
  • Không xịt thuốc vào vùng da dưới quần áo.
  • Nếu có sử dụng kem chống nắng, bạn nên bôi kem chống nắng trước rồi bôi thuốc chống côn trùng.
  • Mặc áo dài tay và quần dài.
  • Xử lý quần áo và đồ đạc: sử dụng Permethrin để xử lý quần áo và các đồ đạc (bốt, quần dài, tất và lều) hoặc mua quần áo và đồ đạc đã được xử lý bằng Permethrin. (Permethrin là một chất hóa học có tác dụng diệt côn trùng và đuổi muỗi).
  • Thực hiện các bước để kiểm soát muỗi trong và ngoài nhà:
  • Sử dụng cửa sổ hoặc cửa chính có tấm chắn. Nếu trên tấm chắn có lỗ, cần sữa chữa để giữ muỗi ở bên ngoài.
  • Sử dụng máy điều hòa nhiệt độ nếu có điều kiện.
  • Mỗi tuần một lần, đổ nước và cọ rửa, lật úp, che đậy hoặc vứt bỏ các vật dụng chứa nước như lốp xe, thùng, xô, bể bơi, chậu hoa hoặc thùng rác.
  • Ngừa muỗi đốt khi đi du lịch nước ngoài:
  • Chọn khách sạn hoặc nhà trọ có điều hòa hoặc cửa sổ và cửa chính có tấm chắn.
  • Sử dụng màn (mùng) chống muỗi khi ngủ khi ở bên ngoài hoặc khi ở trong phòng không có tấm chắn ngăn muỗi.
  • Tiêu chuẩn chọn màn (mùng): màu trắng, chắc chắn, 156 lỗ/inch2 và dài đủ vừa tấm nệm.
  • Màn đã được xử lý bằng Permethrine bảo vệ tốt hơn so với màn không được xử lý.

 

Theo WHO, Promedmail, VNCDC, USCDC, ECDC

Khoa kiểm dich y tế tổng hợp

40 Nguyễn Văn Trỗi, Phường 15, Q. Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh
028 3844 5306
tt.kdytqt@tphcm.gov.vn
KDYTQTHCM

© 2020 Trung tâm kiểm dịch y tế Quốc tế TP.HCM. Thiết kế bởi TD&T .

Online

1

Truy cập

499.404